Chiều ngày Giáng sinh năm 2008, Elon Musk chuyển cho Tesla những đồng tiền cuối cùng mà ông còn có, giao dịch hoàn tất vào lúc 18h. Chậm thêm vài giờ nữa, những tấm séc trả lương cho nhân viên có thể bị trả về vì tài khoản công ty không còn đủ tiền.
Sáu năm trước đó, Musk bán PayPal và thu về khoảng 180 triệu USD. Đó là số tiền đủ lớn để một người gần như không còn phải đặt mình vào bất kỳ tình thế tài chính nguy hiểm nào nữa. Nhưng Musk không chọn cách bảo toàn nó. Ông đưa phần lớn số tiền vào SpaceX và Tesla, một công ty làm tên lửa và một công ty làm ô tô điện, đúng vào hai ngành cần vốn khổng lồ và gần như không có tiền lệ để một người ngoài ngành bước vào rồi thắng.
Đến gần cuối năm 2008, Musk chỉ còn vài trăm nghìn USD, phải vay tiền bạn bè để trang trải chi phí sinh hoạt, trong khi cuộc hôn nhân của ông cũng tan vỡ. Điều đáng nói hơn là SpaceX và Tesla cùng rơi vào tình trạng thiếu tiền gần như trong cùng một thời điểm.
SpaceX gặp vấn đề trước.
Khi ấy công ty chỉ có một sản phẩm là Falcon 1 và ngân sách thực tế chỉ đủ cho ba lần phóng. Lần đầu tiên thất bại vì sự cố khiến tên lửa rơi trở lại. Lần thứ hai bay lên nhưng không đạt được quỹ đạo. Lần thứ ba tiến gần hơn rất nhiều đến thành công, nhưng một sai lệch trong quá trình tách tầng khiến hai tầng tên lửa va vào nhau và nhiệm vụ lại thất bại.
Ba lần phóng, ba lần thất bại, trong khi tiền gần như đã hết.
Nếu nhìn theo cách quản trị rủi ro thông thường, đó là lúc nên dừng. Một dự án đã tiêu hết ngân sách, sản phẩm thất bại ba lần liên tiếp và chưa chứng minh được khả năng thương mại thì quyết định hợp lý nhất thường là cắt lỗ.
Nhưng Musk đã không làm vậy.
SpaceX tận dụng những linh kiện còn lại để lắp chiếc Falcon 1 thứ tư và dồn phần tiền còn lại vào lần phóng đó. Ngày 28/9/2008, chiếc tên lửa rời bệ phóng từ một hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và lần đầu tiên đi vào quỹ đạo thành công. Falcon 1 trở thành tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên do một công ty tư nhân chế tạo đạt được điều này.
Sau đó Musk kể rằng nếu lần phóng thứ tư thất bại, SpaceX sẽ không còn tiền để tiếp tục.
Nhưng một công ty sống lại không có nghĩa công ty còn lại cũng được cứu.
Tesla khi ấy đang ở một tình thế còn khó xử hơn. Công ty từng kỳ vọng hoàn tất một vòng gọi vốn lớn trong mùa hè năm 2008, nhưng khủng hoảng tài chính khiến ngân hàng sụp đổ, tín dụng đóng băng và dòng vốn gần như biến mất. Ngay cả General Motors cũng đang đứng trước nguy cơ phá sản, vì vậy việc một hãng ô tô điện nhỏ, chưa có năng lực sản xuất ổn định và vẫn đang tiêu tiền rất nhanh đi huy động vốn gần như là một nhiệm vụ bất khả thi.
Tesla chỉ còn cách kỳ trả lương vài ngày.
Musk tiếp quản vị trí CEO và đưa những đồng USD cuối cùng của mình vào công ty. Đồng thời, ông cùng các nhà đầu tư hiện hữu tái cấu trúc vòng huy động vốn thành một khoản nợ để vượt qua sự cản trở từ một nhà đầu tư đang tìm cách phong tỏa thương vụ.
Thỏa thuận hoàn tất lúc 18h chiều ngày Giáng sinh 2008.
Theo lời Musk kể lại sau này, vào thời điểm đó ông gần như không còn tài sản nào đáng kể để có thể bán thêm. Số tiền từng lên tới khoảng 180 triệu USD sau PayPal đã được đưa gần hết vào hai doanh nghiệp mà chỉ vài tháng trước còn chưa ai biết liệu chúng có sống qua năm 2008 hay không.
Một ngày trước khi thương vụ cứu Tesla được hoàn tất, NASA thông báo trao cho SpaceX hợp đồng trị giá 1,6 tỷ USD để vận chuyển hàng hóa lên Trạm Vũ trụ Quốc tế. Musk kể rằng khi nhận tin, ông gần như không giữ nổi chiếc điện thoại trong tay.
Nhìn lại từ kết quả sau này, câu chuyện này rất dễ bị kể thành một huyền thoại về thiên tài hoặc niềm tin. Nhưng nếu bỏ kết quả sang một bên và chỉ nhìn vào những gì tồn tại ở thời điểm quyết định, bức tranh ít lãng mạn hơn nhiều.
Musk khi ấy không biết Falcon 1 lần thứ tư sẽ thành công. Ông cũng không biết NASA sẽ trao hợp đồng cho SpaceX. Ông càng không thể chắc rằng vòng tài trợ của Tesla sẽ hoàn tất đúng lúc.
Ông chỉ biết cả hai công ty đều đang cạn tiền.
Và ông phải quyết định số tiền còn lại sẽ đi đâu.
Một lựa chọn hợp lý là cứu một công ty và để công ty kia chết. Tập trung toàn bộ nguồn lực còn lại vào nơi có xác suất sống cao hơn sẽ giảm nguy cơ mất trắng. Nếu nhìn thuần túy bằng quản trị tài chính, đó là lựa chọn dễ bảo vệ hơn.
Musk lại chia nguồn lực cuối cùng cho cả hai.
Quyết định đó không khiến ông trở thành người nhìn thấy trước tương lai. Nó chỉ cho thấy ông chấp nhận một cấu trúc rủi ro mà phần lớn người khác sẽ không chấp nhận: giữ cả hai cơ hội sống đồng nghĩa với việc tăng khả năng cả hai cùng chết.
Sau này chính ông thừa nhận giai đoạn ấy đã đẩy mình đến sát giới hạn chịu đựng.
Điểm đáng nhớ của năm 2008 vì thế không nằm ở việc Musk thất bại ba lần rồi “không bỏ cuộc”. Nếu chỉ nhìn như vậy, câu chuyện sẽ trở thành một khẩu hiệu rất dễ nghe nhưng gần như vô dụng.
Phần đáng xem nằm ở cách ông phản ứng khi những giả định ban đầu liên tục bị thực tế bác bỏ. Ba lần phóng thất bại không tự động chứng minh lần thứ tư sẽ thành công. Hết tiền cũng không khiến thị trường có nghĩa vụ phải cứu Tesla. Việc Musk đã bỏ vào đó hàng trăm triệu USD càng không tạo ra bất kỳ quyền ưu tiên nào đối với kết quả.
Tiền đã bỏ ra là tiền đã bỏ ra. Công sức đã bỏ ra cũng vậy. Thực tế chỉ phản hồi với thứ hoạt động được.
Falcon 1 lần thứ tư đi vào quỹ đạo nên SpaceX có thêm một cơ hội. Tesla tìm được nguồn tiền đúng lúc nên Tesla có thêm một cơ hội. Chỉ cần một trong hai việc ấy diễn ra khác đi, lịch sử của hai công ty có thể đã hoàn toàn khác.
Ngày nay, khi nhìn vào quy mô của Tesla hay SpaceX, rất dễ tưởng rằng kết quả ấy vốn đã nằm sẵn trong năng lực của người sáng lập. Năm 2008 cho thấy điều ngược lại: năng lực có thể đưa một người đến lần thử tiếp theo, nhưng nó không miễn cho người đó khỏi xác suất thất bại.
Ba lần trước không mang lại cho Musk quyền được thành công ở lần thứ tư.
Ông đã chấp nhận trả cái giá để có quyền thử thêm một lần nữa – duy nhất một lần.
Luật chơi chỉ bắt đầu tính kết quả từ lần thử đó, ngày 12/6/2026 SpaceX có đợt IPO lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.








